Chao mung ban doc den voi www.KinhDoanhPhongCachViet.com

Ấn trực tuyến của tạp ch� Kinh Doanh & Phong C�ch xuất bản tại �c

SG_hondothi_SG

 

Hồn Đô Thị

 

 

Trong muôn vạn bàn chân chen phố thị

Ai thừa giờ nhớ một kẻ đi xa

(Nguyễn Nam Trân)

Năm cùng tháng tận, chỉ còn dăm ngày nữa là Tết, người Sài Gòn thấy chộn rộn trong lòng một nỗi man mác khi nghe có gió chướng se lạnh thổi về. Xe đẩy bán đĩa nhạc có gắn loa vào các hẻm, nỉ non những bài hát xưa cũ lại khơi dậy cảm xúc mới tưởng chừng như chìm sâu từ lâu trong cuộc sống lầm lụi.

Chợ sài Gòn xưa

Cho sai gon xua

Sài Gòn thay đổi nhanh không kịp giữ lại những sắc màu làm nên chính nó. Đã có một góc Singapore ở Phú Mỹ Hưng, một góc Paris ở đâu đó quận Nhứt hay một khu phố thương mại sáng choang không kém Âu Mỹ. Giới trẻ nao nức về chúng, nhưng sau khi ra nước ngoài vài chuyến, sau khi ngụp lặn trong các siêu thị hàng hiệu, đến lúc nào đó họ ngẩn ngơ tìm xem Sài Gòn còn có gì khác để mà nhớ nhung?

Sài gòn xưa, thuở mới có xe điện

Xe dien

Tết sắp đến, sao tôi luôn nghĩ đến những người già. Nhớ ông Sơn Nam khi còn sống. Ông nhắc đến một câu chuyện khi mới về Sài Gòn kiếm sống sau 1954. Trong những ngày chưa có việc làm, vợ ông lên tìm và bảo: “Con bé ở nhà tội nghiệp, tôi dắt nó đi chợ. Đi ngang một cái tiệm có bán radio, nó đưa tui mấy đồng xu nói: Má ơi, con có tiền để dành, má mua cho con một miếng radio để Tết nghe cải lương!”. Người cha tha hương thấy lòng se thắt trong cảnh ăn đong kiếm tiền gửi về cho vợ con ở quê nhà.

Một góc Nhà hát thành phố xưa và khách sạn Continental

Xe dien

Sài Gòn xưa cũ với vẻ hào nhoáng chỉ nằm trong ký ức của tầng lớp trung và thượng lưu. Những người nghèo chăm chỉ kiếm sống lang thang trên hè phố, ăn cơm rabiot (lâm vố) tức cơm thừa của lính Pháp đuợc xào lại. Và họ cày cục kiếm tiền mướt mồ hôi sôi nước mắt.

Cảnh quang gánh bán bưng thuở Sài Gòn xưa

Xe dien

Thuở nhỏ, những ngày giáp Tết theo ba đi lấy hàng ở Chợ Lớn, tôi thường thấy thấp thoáng những người đi bán dạo đồ “lạp vị”. Đó là món ăn mùa đông lạnh bên Tàu nhưng mấy chục, mấy trăm năm qua đây sống người Hoa vẫn thèm nhớ hương vị quê hương. Ông chệt già, cao lòng khòng kiểu vóc người Quảng Đông bán hàng xâu vịt lạp, lạp xưởng gan, hay ba rọi phơi khô. Ông bán cả cải bẹ trắng phơi khô dùng để nấu canh. Một tay ông xách giỏ mây đựng đồ bán, tay kia ông cầm đùi vịt giơ cao. Vịt lạp có khi là nguyên con vịt ướp phơi khô, banh ra rất hấp dẫn. Có khi chỉ toàn đùi vịt ướp mật ong phơi khô, giá cả cao hơn nguyên con vịt. Lạp xưởng gan màu đen, nhẩn nhẩn khó ăn nhưng béo, là miếng gan nhét miếng mỡ, phơi khô hay gan nhét vô khúc ruột già. Loại này về ăn ngay, để lâu sẽ hôi dầu. Đồ ăn bán dành cho giới bình dân như nhà tôi, chứ không mấy khi ba tôi bỏ tiền mua đồ lạp vị ở mấy tiệm nổi tiếng hơn như tiệm Xảo Ích ở góc Nguyễn Trãi hay ở khu đèn Năm ngọn, Soái Kình Lâm.

Một người Hoa bán dạo tàu hủ-nước đường trên đường phố Sài Gòn xưa

Mot nguoi Hoa ban dao

Đi ngang qua khu Đề Thám, khu ngã tư quốc tế đầy khách du lịch Tây ba lô mà xưa kia dầy đặc tòa soạn báo tư nhân, tôi còn nhớ bà bán hột vịt lộn to lớn vẫn vung tay qua lại khu vực này. Bà này có chiều cao đáng nể, to lừng lững như một ông Tây với kích thước một mét chín, đã vậy trên đầu còn đội một cái thúng cao nghệu đựng hột vịt lộn và bì cuốn đã làm sẵn. Hai tay bà vung vẩy theo nhịp đi, miệng rao mà ai cũng cam đoan nghe đúng là “Ai… vật lộn không!!!”. Bà đi trước ông bán bánh tráng kẹo với giọng rao khàn khàn “ Ai …chén kiểu không!!!”. Còn buổi chiều, một ông đẩy cái xe bán Chí mà phù (Chí mà: mè, phù: nát). Hay Lục tàu xá (đậu xanh nấu bột báng). Họ nấu bằng đường tán, ngọt thơm và không trộn bột vào chè như bây giờ.

Nhưng đáng nhớ là những thiếu phụ người Tàu Thuận Đức. Má tôi, dì tôi khi còn trẻ có se lông mặt chỗ họ trong những buổi nghỉ ngơi sau buổi chợ.

Một bác sống ở Sài Gòn thuở đó kể rằng ở Trung Quốc có một huyện gọi là Thuận Đức, thuộc tỉnh Quảng Đông có nhiều phụ nữ toàn không chồng. Từ đầu thế kỷ 20, sau các biến động bên đó, họ tràn qua Sài Gòn sinh sống. Nghề chính của cộng đồng nhỏ này là đi làm thuê giúp việc nhà cho giới nhà giàu, nhiều nhất là cho nhà mấy ông Tây, chuyên giữ con nít. Họ là những người giúp việc nhà chuyên nghiệp, sạch sẽ và trung thực, luôn mặc một kiểu trang phụ giống nhau là áo xẩm dài gần đầu gối. Chỉ có những người giàu có ở Sài Gòn trước 1954 mới có thể mướn họ, ngoài dân Tây là số viên chức Việt làm cho Tây hay giới thương gia.

Một người Hoa bán hàng rong trước một ngôi chùa cổ ở Chợ Lớn xưa

Mot nguoi hoa ban dao truoc mot ngoi chua co

Về già, các bà Thuận Đức không đi làm thuê nữa mà sắm một cái rương nhiều ngăn bằng thiếc mặt kiếng thủy tinh để đi bán dạo. Đây là gánh hàng xén mà họ gọi là “Hàng phá quải xí” (Hàng hóa quải thị - hàng hóa gánh ra chợ). Họ chỉ lang thang đi bán vào buổi sáng, chiều nghỉ. Bên trong những ngăn tủ của họ là kem đánh răng, gương lược, kim, chỉ, vòng đá cẩm thạch… Khi đi bán, họ bận áo đen vải dài.

Do cùng cảnh tha hương, cùng số phận phụ nữ không chồng lạc loài kiếm ăn xứ người, họ gắn bó thương yêu nhau như người ruột thịt. Họ hùn nhau mua một dãy phố trên lầu gần ngã tư Nguyễn Tri Phương - Trần Phú (Nguyễn Hoàng cũ), gần khu tẩm liệm Nhà thương Quảng Đông (nay là bệnh viện Nguyễn Tri Phương) và ở chung với nhau. Phía mặt tiền nhà, họ cho đúc hai chữ Phát chân như muốn thể hiện phương châm sống và làm việc cả đời của họ.

Ngoài nghề chính là bán tạp hóa lúc tuổi xế chiều, các bà Thuận Đức còn nghề phụ là se lông mặt cho những phụ nữ thích làm đẹp quanh khu vực giáp giữa quận 1 và quận 5. Khi hành nghề, họ có một cục phấn dùng thoa lên mặt khách hàng cho nổi lông mặt, dùng sợi chỉ kéo căng ra và rà trên da mặt. Sợi chỉ khi kéo căng hay chùng sẽ tự xoắn lại và cuốn đi lông tơ trên mặt khách. Cứ thế, họ sống quanh quẩn trên đuờng phố giữa hai quận phồn thịnh nhất Sài Gòn cũ, cho đến lúc già yếu, qua đời trong sự chăm sóc của những người đàn bà Tàu đồng hương, không mơ gì có lần về lại cố quốc.

Một góc Chợ Lớn xưa

Cho lon xua

Có những buổi trưa, đi qua phố là một ông đi chiếc xe đạp sừng trâu, mang theo một ống sáo thổi te te, loại ống sáo thẳng chứ không phải ống sáo ngang. Ai cũng biết đó là ông chuyên thiến heo. Một ông khác chưa thấy mặt đã nghe tiếng trống lắc tùng tùng. Lão nhân này luôn mặc đồ đen, vai gánh một cái thùng vuông bằng gỗ. Đây là ông thợ nhuộm. Khi có khách, ông nấu thuốc nhuộm trong cái thùng có vỏ ngoài bằng gỗ bọc một thùng thiếc bên trong. Ông có hai cái cây bằng gỗ để trộn quần áo, xong dùng hai cây đó vớt ra để vắt đồ sau đó bỏ ra cái thau để xả. Nước nhuộm từ thảo mộc, luôn có mùi dễ chịu, không gắt nồng và sặc mùi hóa chất độc hại như bây giờ.

Tất cả như nhân vật của đèn kéo quân, đi ra diễu hành trên sân khấu cuộc đời rồi biến mất ở một góc khuất nào đó. Và đôi lúc họ quay lại, chỉ trên một mảnh ký ức hiếm hoi của ai đó.

Một góc Chợ Lớn xưa với cảnh trên bến, dưới thuyền

Cho Lon xua voi canh tren ben duoi thuyen

Khi đến thăm bảo tàng tượng sáp ở Singapore tái tạo hình ảnh cuộc sống của người lao động thuở đang tìm đường phát triển ở đảo quốc giàu có này, tôi xúc động như thấy lại chính họ, những người tha hương kiếm sống trên đường phố Sài Gòn. Với thúng mủng quang gánh, với nét mặt chân chất và cam chịu, họ lưu thông hàng hóa đi các nơi, nhận phần lợi về mình rất ít. Họ đông đảo nhưng âm thầm, đan dệt, tạo nên từng ngày cuộc sống thịnh vượng của đô thị. Ở xứ người, cuộc sống của họ được dựng tượng, tái hiện dù không có ai để lại một cái tên. Còn ở thành phố tuổi nhỏ của tôi, không hề có tượng đài nào, chỉ bỗng dưng họ trở lại ký ức của tôi trong một ngày giáp Tết, rất xa lạ mông lung nhưng nhiều gần gũi thân thương.

P C Luan